Quản trị kinh doanh quốc tế (Phần 2: Những chiến lược kinh doanh quốc tế căn bản)

20
24446

Như đã bàn ở phần trước, việc tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế là không thể tránh khỏi. Ở phần này, chúng ta sẽ tiếp tục xét đến những chiến lược căn bản thường áp dụng ở các công ty đa quốc gia (Multinational Corporations – MNCs).

Tương tự như các công ty nội địa, các công ty đa quốc gia cũng luôn đối diện với hai vấn đề cốt lõi, đó là chi phí và giá trị đem lại cho khách hàng. Với đặc thù của môi trường cạnh tranh toàn cầu, các công ty đa quốc gia cũng phải lựa chọn các chiến lược phát triển, hoặc lợi thế về chi phí, hoặc lợi thế về sự khác biệt (thường được biểu hiện dưới dạng mức độ địa phương hóa* của công ty).

Thông thường, các MNC thường lựa chọn một trong hai chiến lược chính sau đây (được phân loại dựa trên sự ưu tiên chuẩn hóa hoặc ưu tiên địa phương hóa sản phẩm):

  • Chiến lược toàn cầu (Global Standardization Strategy): Với chiến lược này, công ty ưu tiên chuẩn hóa sản phẩm, tập trung vào việc tạo lợi thế cạnh tranh về chi phí, chủ yếu nhờ việc đạt lợi thế cạnh tranh theo quy mô. Do đó, các sản phẩm của các MNC theo chiến lược toàn cầu thường không có sự khác biệt giữa các địa phương. Chiến lược này thường được các công ty công nghệ cao ứng dụng.** Ví dụ, các sản phẩm của Apple (iPhone, iPad,…) chính hãng ở khắp thế giới có chất lượng như nhau, không có nhiều sự thay đổi dành riêng cho các địa phương (cũng có nghĩa là giá trị đem đến cho khách hàng không được tối ưu). Chiến lược toàn cầu thường dùng để đối phó với ngành có áp lực chi phí cao và áp lực địa phương hóa thấp.
  • Chiến lược địa phương hóa (Localization Strategy): Với chiến lược này, công ty thường thay đổi chính mình khi bước vào một thị trường nào đó, nhằm tối ưu khả năng đem lại giá trị cho khách hàng (ưu tiên đa dạng hóa cho phù hợp với địa phương), đồng nghĩa với việc chi phí tăng cao. Các sản phẩm của các MNC sử dụng chiến lược địa phương hóa thường có sự khác biệt lớn giữa các địa phương. Đây là chiến lược thường được các công ty hàng tiêu dùng sử dụng để đối phó với nhu cầu tiêu dùng cực kì khác nhau giữa các nước.*** Ví dụ, người tiêu dùng Việt Nam sẽ không thấy Mtn Dew ở các siêu thị Việt, cũng như người tiêu dùng Mỹ chẳng biết Sting Dâu là gì, dù cả hai sản phẩm đều là của Pepsi. Chiến lược địa phương hóa thường dùng để đối phó với ngành có áp lực chi phí thấp và áp lực địa phương hóa cao.

Như vậy, tùy thuộc vào sự ưu tiên chuẩn hóa sản phẩm hay địa phương hóa sản phẩm mà chúng ta đánh giá một công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu hay địa phương hóa. Không nhất thiết rằng một công ty theo đuổi chiến lược toàn cầu lại không thể thay đổi cho phù hợp với một địa phương trong một vài trường hợp, cũng như không nhất thiết rằng một công ty theo đuổi chiến lược địa phương hóa lại không thể có những sản phẩm giống nhau ở nhiều nơi.

Nhiều tác giả, do không dựa vào sự ưu tiên mà phân loại dựa trên áp lực chi phí và áp lực địa phương hóa sản phẩm, nên đưa thêm hai loại chiến lược:

  • Chiến lược quốc tế (International Strategy): Công ty không gặp áp lực giảm chi phí hay áp lực thay đổi để phù hợp địa phương nào, nên không có động lực chuẩn hóa hay địa phương hóa mạnh. Các công ty này thường là các công ty có sức mạnh độc quyền (như Xerox thời mới phát minh ra máy photocopy hiện đại, hay Microsoft với Internet Explorer thời chưa có Firefox). Tuy nhiên, đây là một chiến lược không bền vững, khi không sớm thì muộn, sẽ xuất hiện các đối thủ đủ mạnh để phá vỡ thế độc quyền (như khi Firefox ra đời, tranh giành với IE), buộc công ty phải lựa chọn, hoặc chiến lược toàn cầu, hoặc chiến lược địa phương hóa để tồn tại.
  • Chiến lược xuyên quốc gia (Transnational Strategy): Công ty gặp cả áp lực giảm chí phí và thay đổi phù hợp với địa phương rất lớn, khiến cho họ vừa phải giảm chi phí, vừa phải thay đổi để phù hợp với địa phương. Đây là trường hợp thường gặp ở hầu hết các ngành. Tuy nhiên, theo đánh giá của người viết, đây là một chiến lược phi thực tế, trừ khi công ty quá vượt trội so với đối thủ (như trường hợp của IKEA hay Caterpillar), vì nếu gặp một đối thủ có sức mạnh tương đương, công ty buộc phải chọn lựa, hoặc chi phí, hoặc sự phù hợp với địa phương.**** Các công ty tham lam, cố gắng ôm hết cả hai lợi thế sớm muộn cũng sẽ thất bại (Ford và ABB đã cố gắng thực hiện chiến lược này nhưng thất bại – theo Charles W. L. Hill, sách đã dẫn).

Như vậy, cũng tương tự với các doanh nghiệp nội địa, các MNC cũng phải đối mặt với sự lựa chọn giữa chi phí và giá trị. Và cũng như trò chơi nội địa, ở trò chơi quốc tế, sự lựa chọn này cũng phải dựa vào đối thủ cạnh tranh (xác định nhờ phạm vi cạnh tranh) và luật chơi của ngành.

Chúng ta đã tìm hiểu qua các chiến lược cơ bản của các công ty đa quốc gia. Vấn đề tiếp theo cần quan tâm là khi một doanh nghiệp quyết định tham gia vào một thị trường ngoại quốc, thì họ có những phương pháp nào. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này ở Phần 3: Các phương thức gia nhập thị trường ngoại quốc.

* Mức độ địa phương hóa ở đây được định nghĩa là mức độ thay đổi tiêu chuẩn chung của công ty để phù hợp với nhu cầu của khách hàng tại địa phương mà công ty nhắm đến.

** Các công ty dịch vụ du lịch – nhà hàng – khách sạn cũng áp dụng chiến lược này, nhằm tạo niềm tin cho khách hàng (nếu bạn đã đến một khách sạn Hilton ở nước Mỹ, thì bạn cũng biết chắc những dịch vụ mình được hưởng ở Hilton châu Âu cũng tương đương như vậy), đồng thời cũng để dễ dàng phát tán mô hình hoạt động của mình. Khách hàng chủ yếu của những công ty này thường không phải là người địa phương.

*** Chiến lược này cũng được sử dụng khi mà ở mỗi thị trường lại có một tiêu chuẩn kĩ thuật khác nhau, ví dụ như ngành nông sản, điện gia dụng hay kế toán. Các công ty truyền thông cũng ưu tiên địa phương hóa, như BBC chẳng hạn (với nhiều ngôn ngữ và thông tin khác nhau tùy vào từng quốc gia).

**** Giả sử công ty A sử dụng chiến lược xuyên quốc gia. Khi xuất hiện công ty B với sức mạnh tương đương có chi phí thấp (nhờ chiến lược toàn cầu hóa) và công ty C với sức mạnh tương đương có sự phù hợp địa phương cực mạnh (nhờ chiến lược địa phương hóa), thì công ty A sẽ bị kẹp giữa hai gọng kìm: thất bại dưới tay B ở các thị trường quan tâm nhiều đến giá, và thất bại dưới tay C ở các thị trường có nhu cầu khác biệt. Cuối cùng, khi sức cùng lực kiệt, để tồn tại, A cũng phải lựa chọn, hoặc toàn cầu hóa, hoặc địa phương hóa mà thôi.

20 COMMENTS

  1. Tuki de Luti ơi, sao mình hk tìm thấy Phần 3: Các phương thức gia nhập thị trường ngoại quốc. Mình rất cần phần, post lên dùm đi

    • Thiệt ngại quá, mình để phần này ở TPHCM rồi. Hiện tại đang ở Kiên Giang. Trong vòng tuần tới lên TPHCM mới up được. Bạn có cần gấp lắm hay không?

      • Tại mình gần thuyết trình rồi. Trong bài thuyết trình có phần có thể có trong bài của bạn. Khoảng thứ mấy bạn up được

          • Bạn có thể trả lời giúp mình câu hỏi: Một công ty nên sử dụng một chiến lược hay luôn phải thay đổi chiến lược? Nếu thay đổi thì tại sao phải thay đổi

          • Chiến lược kinh doanh quốc tế (thường áp dụng cho các công ty đa quốc gia) thì rất khó mà thay đổi liên tục được. Ngay cả với các công ty quy mô nhỏ thì việc thay đổi chiến lược liên tục là không nên (vì các hoạt động nhằm phục vụ cho chiến lược này, đang làm, bỗng dưng bị ngưng để chuyển sang chiến lược khác thì rất phí phạm).
            Chiến lược thông thường chỉ thay đổi khi có sự thay đổi lớn từ môi trường (đối thủ thay đổi lớn, tình hình kinh tế – chính trị – xã hội thế giới có chuyển biến mạnh như có chiến tranh chẳng hạn, hoặc công nghệ mới…). Trường hợp còn lại đó là khi công ty chợt nhận ra mình đang thực hiện chiến lược quá sai lầm, thì mới phải thay đổi.
            Nhìn chung, chiến lược là thứ lâu dài, nên tránh nay đây mai khác.

    • Là thứ khiến bạn không làm khác đi với chuẩn chung của cả công ty toàn cầu không được. Ví dụ như McDonald vào Ấn thì phải biết mà né thịt bò, thịt heo bớt đi, hay như McDonald vào Việt Nam cũng phải tinh chỉnh khẩu vị. Nếu cứ để theo chuẩn thế giới thì không được, đó là áp lực địa phương hóa, khiến công ty phải thay đổi phù hợp với từng nơi.

      • Còn áp lực chi phí thì ngược lại, vì nếu địa phương nào thay đổi địa phương đó thì phải tốn thêm chi phí (dĩ nhiên), ví dụ như phải có dây chuyền hay sản phẩm khác biệt chẳng hạn, làm tăng chi phí. Lúc này thì muốn giảm chi phí lại phải đổi về cùng 1 chuẩn trên khắp thế giới (ngược lại vs áp lực địa phương hóa).

  2. chiến lược địa phương hoá phù hợp với ngành công nghiệp nào? Khi nào chiến lược chuẩn hoá toàn cầu là phù hợp? giúp mình với…

  3. bạn có thể cho mình biết khái niệm cty đa nội địa , cty quốc tế , cty toàn cầu , cty xuyên quốc gia đc k ạ ? :(((

  4. Chào bạn, bạn có tài liệu về phần này không cho mình xin với, sang tuần mình thuyết trình về chiến lược kinh doanh quốc tế, trong đó có phần này mà mình tìm k ra.
    4.2.4. Xây dựng kế hoạch thực hiện chiến lược
    ​​4.2.4.1 Chọn nơi phân bổ
    ​​4.2.4.2 Lựa chọn hình thức sở hữu
    ​​4.2.4.3 Xây dựng các chiến lược chức năng

  5. Anh chị có thể cho e xin các chiến lược của các cty quốc gia địa phương cạnh tranh với các công ty đa quốc gia(MNCs) tại thị trường của mình. help me

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.